Thực phẩm chiếu bức xạ còn tia phòng xạ không ăn được ?

Thực phẩm chiếu bức xạ còn tia phòng xạ không ăn được ?

 

Chất lượng thực phẩm và sức khỏe con người có liên quan khăng khít với nhau mà thực phẩm lại dễ bị ô nhiễm vi khuẩn độc bệnh, kỳ sinh trùng, côn trùng nhât và cũng là một loại dễ biến chất, thối rữa nhất trong các vật phẩm tiếp xúc hằng ngày của cuộc sống con người. Có nhiều phương pháp có thể tiêu diệt các loại vi sinh vật gây bệnh trong thực phẩm khi cung cấp suất ăn công nghiệp bình dương, kéo dài thời  gian bảo quản, trong đó bao gồm cả việc xử lý chiếu bức xạ.

 

Dùng kỹ thuật bức xạ điện ly để tiến hành chiếu bức xạ thức ăn chín đóng gói chân không, rau, hoa quả, thịt lương thực, các loại mì ăn liền…vv… so với phương pháp diệt khuẩn giữ tươi nguyên như hong gió, phơi nắng, muối nén,  đông lạnh, cho thêm chất chống ôi…vv. Truyền thống thì nó chắc chắn có hiệu quả và tốc độ nhanh hơn. Nó còn giữ cho thực phẩi còn hình thái cũ, có vị và dinh dưỡng tốt; nâng cao chất lượng của thực phẩm, kéo dài hạn sử dụng của hàng hóa, làm giảm tổn thất tài nguyên và bệnh tật có tính chất từ nguồn ăn.

 

Do thực phẩm chiếu bức xạ là lợi dụng năng lượng cao của các tia phòng xạ phát ra để diệt vi sinh vật và côn trùng, đạt mục đích khử độc và giữ tươi nguyên, nên trong thực phẩm không còn có tia xạ lưu lại. Vì thế không có vấn đề ô nhiễm chỉ cần nằm trong điều kiện chất và lượng bức xạ nhà nước quy định, thì thực phẩm sẽ không sinh ra biến đổi chât lượng, nên chúng ta có thể yên tâm dùng.

Các loại lạp xưởng, dăm bông, chân giò hun, bánh mì, hoa quả..vv… dùng cho phi công vũ trụ đều là thực phẩm qua chiếu bức xạ, nghe thấy như thế bạn đã yên tâm chưa ?

 

 

 

Nước suối khoáng dùng hợp với mọi người ?

 

Từ rất lâu mọi người đã biết nước suối khoáng có thể uống được, do trong một số nước suối khoáng có thành phần hóa chất đặc biệt nên có tác dụng trị bệnh, nước suối khoáng dùng trị liệu có nước suối radon, nước suối cacbonate, nước suối sắt, nước suối iot, nước suối brom, nước suối silicate, nước suối bicarbonate, nước suối sulfate…vv… tất cả hơn 10 loại.

 

 

Thường nước suối khoáng có độ khoáng ít, có nhóm có ích với cơ thể người, còn có thể bổ sung một số nguyên tố vi lượng nhất định, uống lâu dài có thể gây nên những hiệu quả cho sức khỏe nhất định với tuyệt đại đa số người. Nhưng số ít người bị bệnh sỏi thận thì nên tránh dùng, để đề phòng nhiều chất khoáng lắng đọng, người bị bệnh thận và tóm cũng không nên uống lâu dài nước suối khoáng có natri nhiều. Do hiện nay các nước suối khoáng có chứa brom dưới tác dụn củ ozon sẽ sinh ra các chất halogien hóa có độc như tribromomethane…vv… cho nên dùng không hợp.


Hạnh nhân ngon ăn nhiều không sao cá nóc chế biến khô sẽ không độc ?

Cá nóc chế biến khô sẽ không đọc ?

 

Trong cá nóc có chứa độc tố, độc tố của nó có bao nhiêu, còn tùy thuộc vào các nhân tố như chủng loại cá, bộ phận và giới tính cá, mùa đánh bắt và khu vực sinh sản cá, mà có sự khác nhau. Nói chung, hàm lượng độc tố trong thịt và máu cá nóc tương đối ít, còn ở trong da, gan, trứng cá thì nhiều hơn. Thời gian trúng độc cá nóc từ 10 phút đến 3 tiếng. Đặc trưng chủ yếu là do bởi đầu mút thần kinh và trung khu thần kinh bị tê liệt, mà dẫn đến miệng tê dại, thở khó và gây ra các triệu chứng về dạ dày, đường ruột cấp tính, tứ chi uể oải rã rời, các bắp chân bắp tay tê dại, cảm giác thần kinh tê liệt, thần kinh thứ 10 tê liệt. Cuối cùng co thể tử vong do trung khu hô hấp và trung khu vận động huyết quản bị tê liệt. Độc tố cá nóc tương đối ổn địnhh : muối, phơi nắng, đun nấu đều không thể phá hỏng được. Trong quá trình chế biến cung cấp suất ăn công nghiệp biên hòa cá nóc khô, nếu không loại bỏ hết các phần có độc, hoặc trong quá trình chế biến không thận trọng để cho độc tố trong nội tạng cá nóc thấm vào trong thịt, làm cho cá nóc sau khi phơi khô xong có nhiều độc tố hơn. Vả lại phương pháp chế biến mang tính vậy lý, dùng trong quá trình chê biến cá nóc khô, không thể nào loại bỏ hoàn toàn độc tố của cá nóc. Thành phố thượng hải xảy ra rất nhiều sự cố tử vong do trúng độc bởi cá nóc khô dùng chế biến các món ăn. Bộ y tế trung quốc đã có nhiều văn bản cấm tiêu thụ phế phẩm cá nóc khô trên thị trường.

Hạnh nhân ngon ăn nhiều không sao ?

 

Các tỉnh đông bắc, hà bắc, sơn đông, tây bác ( trung quốc) sản xuất nhiều hạnh nhân. Ở những khu vực này thường xảy ra chuyện trẻ con ăn hạnh nhân bị trúng độc, trong hạnh nhân có chứa amygdalin. Trong quá trình nhai, tiêu hóa, amygladin hydrocyanic acide lam nó hập thụ nhanh chóng vào máu, gây nên trúng độc, hydrocyanic acide là chất độc tế bào nguyên tương, tác dụng nhanh, độc tính lớn, chỉ một lượng rất nhỏ qua miệng gây nên chết người với khoảng 0,5 – 35mg cho 1kg thể trọng. Ion cyanua có thể ức chế hoạt tính của nhiều loại men trong người, nhạy cảm nhất là men oxit của tế bào sắc tố, làm cho con người không thể lợi dụng được oxy trong tổ chức, làm cho tổ chức hô hấp của tế bào bị ức chế, dẫn đến cơ quan hô hấp ngột ngạt thiết oxy. Hệ thống thần kinh trung khu của con người rất dễ nhạy cảm đối với thiếu oxy, khi trúng độc, trung khu hô hấp và trung khu vận động huyết quản tổn thương nặng nhất, dẫn đến hô hấp suy yếu, tê liệt, thậm chí tử vong. Ngoài ra còn tổn hại trực tiếp đến hệ hô h61p và trung khu vận động huyết quản. Trẻ con chỉ cần ăn 10 – 20 hạt hạnh nhân, người lớn 40 – 60 hạt, có thể bị trúng độc chết ngay, do đó không được ăn nhiều.


Khẩu phần ăn thực đơn chế độ ăn trong suất ăn công nghiệp

Khẩu phần ăn

 Là suất ăn công nghiệp cho một người trong một ngày nhắm đáp ứng nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể

  

Thực đơn

 Là khẩu phần tính thành lương thực, thực phẩm được chế biến thành các món ăn công nghiệp được dùng trong từng bữa, từng ngày, từng tuần.

 

 Chế độ ăn

 Chế độ ăn được biểu hiện bằng số bữa ăn trong một ngày, giờ ăn và tỷ lệ năng lượng giữa các bữa ăn.

 

  canh gan lợn đậu nành

Các bước xây dựng khẩu phần ăn

 

  • Bước 1 : tính năng lượng cho các đối tượng và các chất dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng protein, lipid, glucid được tính theo tỷ lệ protein + lipid + glucid là 12 : 18 + 70% tổng số nhu cầu năng lượng. Từ đó tính ra các chất dinh dưỡng.
  • Bước 2: chọn lương thực chính ( gạo).
  • Bước 3: chọn thực phẩm giàu protein ( thịt heo).
  • Bước 4: tính lượng gạo và lượng thịt heo.
  • Bước 5 : bô sung vitamin, chất khoáng bằng các rau quả theo mùa.
  • Bước 6 : bổ sung năng lượng bằng dầu, mỡ hoặc đường ( lượng đườn không vượt quá 10% năng lượng khẩu phần).
  • Bước 7: tính khối lượng nước để nấu chín thực phẩm.
  • Bước 8: thêm gia vị tùy theo tập quán ăn uống từng địa phương. Hạn chế gia vị kích thích, nhất là đối với trẻ em và kiểm tra khẩu phần.

 

Để đơn giản hóa công việc của người xây dựng thực đơn, có thể tính toán theo một thực đơn mẫu thích hợp cùng với bảng thay thế thực phẩm để luôn luôn thay đổi món ăn cho linh hoạt và phong phú.

 

Rau xanh các loại có thể tính tương đương nhau, chú ý nên dùng nhiều loại rau có màu xanh đậm như rau ngót, rau muống, rau dển, mồng tơi, đậu que và các loại có màu vàng cam như bí đỏ, cà rốt, cà chua, khoai lang, bí… vừa rẻ tiền vừa giàu chất dinh dưỡng.

 

Khẩu phần ăn hợp lý khẩu phần ăn hợp cân đối hợp lý là một khẩu phần ăn :

 

  • Cung cấp đầy đủ năng lượng cho nhu cầu cơ thể.
  • Đảm bảo cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.
  • Các chất dinh dưỡng phải có tỷ lệ cân đối thích hợp. Đây là điều kiện quan trọng nhất của khẩu phần ăn và cũng khó thực hiện nhất.

 

Đánh giá khẩu phần ăn việc đánh giá khẩu phần ăn có thể thực hiện theo các bước sau:

 

  • Bước 1 : chọn ngày đánh giá, thường 5 – 7 ngày liên tiếp.
  • Bước 2 : tính lượng thực phẩm tiêu thụ trong 5 – 7 ngày đã chọn trên đầu người.
  • Bước 3 : tính giá trị dinh dưỡng của bữa ăn trong ngày. Dựa vào các dữ liệu đã thu thập được như thực đơn trong ngày, lương thực phẩm tiêu thụ cho một người ăn, bảng thành phần thực phẩm và thành phần dinh dưỡng thức ăn ở việt nam, các vitamin và khoán chất quan trọng dễ bị thiếu nhu CA, FE, vitamin A, vitamin B1, Vitamin C
  • Bước 4 : tính giá trị trung bình của 5 ngày liên tiếp.
  • Bước 5: nhận định và đánh giá : có đạt nhu cầu về năng lượng, chất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng có tỷ lệ cân đối hay không, chất dinh dưỡng nào thừa, thiếu, mức độ thừa, thiếu; thực đơn có thay đổi, phù hợp hay không ?
  • Bước 6: khuyến nghị, dựa trên cơ sở khoa học thực tế khả thi.

 

Khái niệm năng lượng trong dinh dưỡng thực phẩm

 

  Trong quá trình sống, cơ thể người luôn phát triển, thay cũ đổi mới và thực hiện các phản ứng sinh hóa, tổng hợp xây dựng các tế bào, tổ chức mới, đòi hỏi được cung cấp năng lượng.

 

Năng lượng được lấy từ thức ăn công nghiệp là các thành phần dinh dưỡng như protein, glucid, lipid. Ở người, clucid và lipid là hai nguồn cung cấp năng lượng chính.

 

Thông thường người ta thể hiện giá trị sinh năng lượng của thức ăn và nhu cầu năng lượng bằng đơn vị kilocalo (kcal) – 1g protein cung cấp 4 kcal, 1g glucid cung cấp 4 kcal, 1g lipid cung cấp 9kcal.

 

Năng lượng tiêu hao hằng ngày bao gồm năng lượng tiêu hao cho chuyển hóa cơ sở và cho hoạt động thể lực.

 

Năng lượng cho chuyển hóa cho cơ sở là năng lượng cơ thể tiêu hao trong điều kiện nghỉ ngơi, nhịn đói và ở điều kiện môi trường thích hợp. Đây là năng lượng cần thiết để duy trì các chức năng bộ phận sống như tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hóa, duy trì tính ổn định các thành phần của dịch thể.

 

Ngoài phần năng lượng tiêu hao để duy trì các hoạt động của cơ thể, hoạt động thể lực càng nặng thì tiêu hao càng nhiều năng lượng. Năng lượng tiêu hao cho hoạt động thể lực tùy theo tính chất, cường độ và thời gian hoạt động.

 

Nhu cầu năng lượng cơ thể

 

Có nhiều công thức tính nhu cầu năng lượng cơ thể. Các phương pháp tính nói chung đều dựa trên các chỉ số như : trọng lượng cơ thể, chiều cao, độ tuổi, giới tính, tính chất lao động, tình trạng sức khỏe.

 

Để xác định nhu cầu năng lượng cả ngày, người ta cần biết nhu cầu cho chuyển hóa cơ sở và thời gian, tính chất các hoạt động thể lực trong ngày.

 

Dinh dưỡng hợp lý

 

Dinh dưỡng co vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Đảm bảo đáp ứng các nhu cầu về sinh dưỡng là vấn đề cơ bản của ngành dinh dưỡng và của mọi người.

 

Dinh dưỡng hợp lý là phải đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng phù hợp độ tuổi, tình trạng lao động, tình trạng sức khỏe, quan tâm tới chất xơ và nhu cầu nước.